TUỔI TRẺ THPT CHƠN THÀNH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

"Không có việc gì khó - Chỉ sợ lòng không bền - Đào núi hay lấp biển - Quyết chí ắt làm nên"

Giới thiệu chung
Cuộc Đời hoạt động
Những câu nói của Bác
Tư tưởng HỒ CHÍ MINH
Bản Di Chúc
Tác phẩm của  Bác
Phong cách Bác Hồ
Học và Làm
Album Ảnh Bác
Phim tài liệu về Bác
Chuyện Bác Hồ
Thơ về Bác
Lời bài hát về Bác
Nghe Nhạc về Bác
Hát Karaoke

Soạn: AM 531065 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi hội nghị Véc-xây

 

Tháng 6 năm 1919, nghe tin các đoàn đại biểu mười mấy nước Đồng minh chiến thắng họp ở Véc-xây cách thủ đô Paris 14 ki-lô-mét, Nguyễn Tất Thành bàn với nhà yêu nước Phan Châu Trinh và luật sư, tiến sĩ Phan Văn Trường viết bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Véc-xây.

    

Năm 1911, thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước

Nhà yêu nước họ Phan trịnh trọng nói:

    - Bảy điều yêu sách mà anh Thành nêu ra, theo tôi thật là xác đáng và đúng như bọn mình thường trao đổi với nhau. Chú Trường xem nên có thêm điều gì không?

    - Tôi thấy thế là tốt… Thử xem còn vấn đề gì về quyền của nhân dân ta cần đòi… - Văn Trường nói và gõ nhẹ vào trán mình theo thói quen của ông khi cần suy tính một điều gì.

    - Thưa hai bác – Tất Thành lên tiếng – Hôm trước cháu phác thảo ra 7 điều yêu sách đưa hai bác xem, nhưng đêm hôm qua cháu mới nảy thêm một ý. Cháu thấy rằng ở Đông Dương, bọn quan lại chỉ dựa vào các sắc lệnh của tên toàn quyền để cai trị dân ta mà không hề có luật. Cháu muốn đưa thêm một yêu sách nữa: “Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp”.

    - Đúng! Đúng! Luật sư họ Phan sôi nổi hưởng ứng. Muốn cho dân ta có tự do thì phải đòi họ cai trị theo luật pháp!

    - Tôi cũng tán đồng! Phan Châu Trinh nói như kết luận buổi gặp mặt. Bây giờ ta làm thế nào để chuyển bản Yêu sách tới Hội nghị Véc-xây đây!

    Tất Thành:

    - Thưa bác, cháu nghĩ rằng phải nhờ bác Phan Văn Trường viết ngay ra bằng tiếng Pháp thì mới kịp.

    Hai ngày sau, Nguyễn Tất Thành đã ngồi bên luật sư Phan Văn Trường, trước bản “Yêu sách của nhân dân Việt Nam” vừa thảo xong bằng chữ Pháp.

    - Chúng ta sẽ đứng tên dưới bản yêu sách này như thế nào đây? Bác đứng tên nhé. Nguyễn Tất Thành nêu ý kiến.

    - Không! Phan Văn Trường đáp – bản Yêu sách này tuy là tôi chấp bút viết ra bằng tiếng Pháp. Nhưng tôi phải viết chỉ vì anh chưa thông thạo Pháp văn mà thôi, chứ sáng kiến lớn lao này của anh, và hầu hết ý kiến nêu ra trong bản Yêu sách cũng là của anh.

    - Thưa bác, sáng kiến của cháu cũng chỉ là phản ánh nguyện vọng chung của những người yêu nước chứ có phải của riêng cháu đâu. Bác là một nhân vật có danh tiếng, bà con Việt kiều trên đất Pháp đều biết bác là một luật sư yêu nước dám bênh vực công lý, che chở cho bà con. Bác đứng tên cho bản yêu sách này thì giá trị của nó càng cao, ảnh hưởng của nó càng rộng.

    - Không! Không thể được! Tôi tuy có chút danh vọng hơn anh ngày nay, nhưng cái tâm, cái chí của anh còn lớn hơn tôi nhiều. Vả lại về nguyên tắc, người trí thức không được phép lấy công người khác làm công của mình: “Cái gì của Xê-da thì phải trả lại cho Xê-da”. Đó mới là lẽ phải. Chẳng những tôi không thể đứng tên, mà bác Hy Mã Phan Châu Trinh cũng không nên đứng tên.

    Cuộc trao đổi giữa hai nhà yêu nước đi tới kết luận dùng một cái tên gì tiêu biểu cho nguyện vọng chung của nhân dân, nhưng phải là một tên cá nhân thì tính chất pháp nhân của văn bản mới có giá trị. Cuối cùng anh Nguyễn quyết định tự mình đứng mũi chịu sào với cái tên chung cho tấm lòng của mọi người. Anh ký:

Thay mặt cho những người yêu nước Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc

    Ngay buổi chiều hôm ấy, sau khi bản Yêu sách được gửi đi, anh Nguyễn rời khỏi nhà số 8 đường Vi-la đê Gô-bơ-lanh, nơi anh vẫn ở với luật sư Phan Văn Trường. Anh sống bí mật, đề phòng sự truy lùng ráo riết của bọn mật thám Bộ Thuộc địa Pháp.

    Vào buổi sáng sớm có người đến bấm chuông căn nhà số 6, phố Đô-bi-nhi. Đây là nhà của Giuyn Căm-bông, đại sứ cũ của Pháp ở Đức, hiện là thành viên của đoàn đại biểu Pháp đi dự Hội nghị Véc-xây. Giơ-nơ-vi-e-vơ Ta-bu-i, cô cháu gái trẻ của Căm-bông ra mở cửa. Sau này cô là một nhà báo nổi tiếng, nhưng lúc bấy giờ cô là thư ký của cậu cô. Người bấm chuông là một thanh niên châu Á, mảnh khảnh, có khuôn mặt cởi mở, dễ mến, đôi mắt to, sáng long lanh. Anh lịch sự chào cô và nói bằng thứ tiếng Pháp không sõi:

    - Tôi muốn trao cho ngài đại sứ Căm-bông một văn kiện.

    - Giơ-nơ-vi-e-vơ mời khách đến sớm vào nhà rồi ra hiệu cho khách ngồi xuống cạnh chiếc bàn dài chạm trổ theo kiểu đế chế. Chiếc bàn này hiện nay vẫn kê trong phòng khách gia đình Ta-bu-i. Cô gái hỏi người thanh niên này là ai?

    - Thưa cô, tôi là Nguyễn Ái Quốc, tôi muốn gặp ngài Căm-bông.

    Chàng thanh niên lấy ra một cuốn giấy buộc bằng dây mảnh. Anh mở ra và trao cho cô gái.

    - Tôi đến đây để trao cho ngài đại sứ “bản trần tình” của nhân dân Đông Dương.

    Có thể thấy ngay là những tờ giấy trong cuộn giấy viết bằng một thứ chữ rất đẹp. Tờ đầu tiên là bức thư gửi cho chủ nhà:

    Thưa ngài đại sứ Căm-bông, đại diện toàn quyền của nước Pháp tại Hội nghị Véc-xây. Tôi là người đại diện cho nhân dân Đông Dương. Chúng tôi là một dân tộc chậm phát triển, chúng tôi đã được biết thế nào là nền văn minh của nước Ngài…”.

    Tài liệu mà người thanh niên châu Á mang đến có tên là “Bản yêu sách của nhân dân An Nam”. Bản Yêu sách viết:

    “Trong khi chờ đợi nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thực sự, nhân dân An Nam trước kia, nay là xứ Đông-Pháp, xin trình bày với các quý Chính phủ Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng những yêu sách khiêm tốn sau đây:

1.       Tổng ân xá cho những người bản xứ bị án tù chính trị;

2.       Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3.       Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4.       Tự do lập hội hội họp;

5.       Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6.       Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7.       Thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8.       Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.

    Vài ngày sau, các đoàn đại biểu khác tham gia Hội nghị và nhiều nghị sĩ Pháp cũng nhận được bản yêu sách tương tự như vậy. Kèm theo bản yêu sách có bức thư ngắn:

    “Thưa ngài! Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi đến Ngài kèm theo đây bản ghi những yêu sách của nhân dân An Nam. Tin tưởng ở sự độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ bản yêu sách này trước những người có thẩm quyền.

    Thay mặt nhóm những người An Nam yêu nước: Nguyễn Ái Quốc”.

    Người ta nhiều lần bắt gặp người thanh niên Việt Nam kiên trì này với tập giấy tờ cặp dưới nách tại các hành lang ồn ào, mù mịt khói thuốc của các ban biên tập báo ở Pa-ri, trong các gian phòng chật chội do các công đoàn và đảng Xã hội thuê để tổ chức các cuộc họp và mít tinh.

anh Văn Ba phụ bếp trên tàu năm 1911

    Lu-i Ác-nu, Trưởng ban Đông Dương của Sở Mật thám Pháp, sau này là Chánh mật thám Pháp ở Đông Dương, nhún vai khi nghe báo cáo về hoạt động của một người nào đó tên là Nguyễn Ái Quốc và về nội dung một “tài liệu chống Pháp” đang được người đó phân phát khắp nơi. Do nghề nghiệp đòi hỏi, Ác-nu hầu như biết rất rõ mọi người An Nam khả nghi sống ở Pa-ri, được báo cáo tỉ mỉ về bước đi của “những kẻ chủ mưu gây bất an” từ Đông Dương sang. Một trong những người đó là Phan Châu Trinh, mở một hiệu ảnh và thực tế đã ngừng hoạt động chính trị. Vả lại, hành động “khiêu khích” như vậy vốn không phải là Phan Châu Trinh, vì ông lúc nào cũng có thái độ kính nể nước Pháp. Một người khác là luật sư Phan Văn Trường, cũng sống ở Pa-ri, được coi là một nhà mác-xít, nhưng chỉ là người dịch sách báo chính trị ra tiếng Việt và không bao giờ tham gia làm những việc như vậy. Chỉ còn một người duy nhất trong số những nhân vật quan biết cũ của Sở Mật thám dám cả gan làm việc này là Phan Bội Châu. Nhưng Ác-nu biết chắc chắn Phan Bội Châu đang ở một nơi nào đó tại miền Nam Trung Quốc, hơn nữa, mới đây ông ta có cho đăng một bài báo, lờI lẽ rất ôn hòa có lợi cho chủ trương hợp tác Pháp-Việt.

    Cả Ác-nu kẻ có con mắt cú vọ, nhòm ngó khắp nơi, thậm chí cả những người bạn gần gũi của người yêu nước trẻ tuổi đã cả gan cất lên tiếng nói bảo vệ nhân dân bị áp bức của mình ngay giữa trái tim của bọn đế quốc Pháp cũng không biết được và cũng không thể ngờ vào lúc đó rằng, Nguyễn Ái Quốc – tác giả bản Yêu sách, anh Văn Ba, người phụ bếp trên tàu biển, người con trai quan Phó bảng duy nhất ở làng Sen, cậu bé ham hiểu biết Nguyễn Tất Thành – cũng chỉ là một người mà thôi.

(theo “117 CHUYỆN KỂ VỀ TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH”
– Ban Tuyên giáo Trung ương)

  1. @ Những mẩu chuyện về Bác Hồ với thiếu niên, nhi đồng

  2. Bác gọi

  3. Bác đã dạy tôi yêu thương con trẻ

  4. Bác Hồ với ba người con đỡ đầu ở Pháp - Đức - Nga

  5. Bác Hồ thưởng huy hiệu của Người cho La Thị Tám, nữ anh hùng tại ngã ba Đồng Lộc

  6. Bác Hồ với vấn đề tiết kiệm trong ngành ngoại giao

  7. Bác Hồ với thương binh, liệt sĩ

  8. Bác không đồng ý với nghị quyết của Bộ Chính trị về tổ chức kỉ niệm ngày sinh của Người

  9. Bác đi thăm rừng Cúc Phương

  10. Bài học dựa vào dân

  11. Bác Hồ với việc sử dụng nhân tài

  12. Bác Hồ với những người làm phim

  13. Bác Hồ đọc sách báo

  14. Bác Hồ và cái Tết ấn tượng

  15. Bác Hồ với Trung thu độc lập đầu tiên

  16. Bác tặng khăn quàng

  17. Bác Hồ với việc học tập và sử dụng tiếng nước ngoài

  18. Bác nắm bàn tay THAN BỤI của chúng tôi

  19. Bác Hồ với chị Lý

  20. Bác Hồ với người làm báo

  21. Bác nhớ các cháu

  22. Bác cũng phải có giấy mà !

  23. Bác Hồ thích ăn món gì nhất

  24. Bác Hồ với Cụ Phan Châu Trinh

  25. Bác Hồ với Cụ Phan Bội Châu - Bức thư Phan Bội Châu gửi Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc)

  26. Bác Hồ với Cụ Huỳnh Thúc Kháng

  27. Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi hội nghị Véc-xây

  28. Ba lần được gặp Bác Hồ

  29. Bữa cơm gia đình

  30. Bài học của thầy mo

  31. Bức tranh thêu Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng đại tá Stephen L. Nordlinger

  32. Các em sạch và ngoan thật!

  33. Cách ứng đáp mẫn tiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh

  34. Cách đọc độc đáo của Bác

  35. Câu lạc bộ Phô Bua, nhà văn Léo Poldes và vở kịch Con rồng tre của Nguyễn Ái Quốc

  36. Câu chuyện về cuốn sổ tiết kiệm của Bác Hồ

  37. Cây xanh bốn mùa

  38. Cây xanh bốn mùa (2)

  39. Cây đào mùa xuân

  40. Câu chuyện về 3 chiếc balô

  41. Câu chuyện về chiếc tàu phá thuỷ lôi mang biệt hiệu T5 và tấm lòng của Bác

  42. chuyện về 3 chiếc ba lô (2)

  43. Chai mật ong Bác tặng

  44. Châu tự do

  45. Chim Hồng dang rộng cánh bay xa

  46. Chiếc máy điều hòa nhiệt độ trong phòng Bác

  47. Chủ tịch Hồ Chí Minh với gia đình Raymond Aubrac

  48. Chú để Bác thuyết minh cho

  49. Chú ngã có đau không

  50. Chúc tết Bác, ngâm thơ Bác

  51. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp các nhà báo trong thời gian đi thăm nước Pháp năm 1946

  52. Con người vĩ đại

  53. Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin

  54. Có thể cho người nghèo những thứ ấy

  55. Cố gắng giải phóng nhanh để Bác được vào thăm đồng bào miền Nam

  56. Cuộc sống giản dị của Bác ở Phủ Chủ tịch

  57. Củng Hồ biết thuốc giỏi lắm

  58. Cụ khách lạ dễ mến

  59. Dưới gốc đa Tân Trào

  60. Đạo đức người ăn cơm

  61. Đi làm ruộng với nông dân

  62. Đôi dép Bác Hồ

  63. Đường về Pắc Bó

  64. Em Đội viên mắt sáng

  65. Giản dị và tiết kiệm

  66. Gương mẫu tôn trọng luật lệ

  67. Hai lần được gặp Bác

  68. Hồ Chí Minh - Nhà văn hoá lớn

  69. Kỷ niệm Bác trong nhà lao Phú Quốc

  70. Lòng yêu nước, ánh sáng và tinh thần quốc tế

  71. “Lịch sử” ba bộ quần áo của Bác

  72. Màu xanh còn mãi

  73. Mùa xuân nhớ Bác

  74. Một ngày thu không thể quên

  75. Một lần nhớ mãi

  76. Năm ấy Bác Hồ không đi thăm rừng Cúc Phương

  77. Người Công giáo ghi ơn Bác Hồ

  78. Nhà sàn Bác Hồ: Bài học về sự giản dị, tiết kiệm

  79. Nhân cách Bác Hồ

  80. Những kỷ niệm tháng sáu trong cuộc đời hoạt động cách mạng của NAQ - Hồ Chí Minh

  81. Những bữa cơm của Bác Hồ

  82. Những bào thơ xuân của Bác Hồ 40 năm về trước

  83. Nhờ có Bác tôi đã gắn trọn đời mình với Việt Nam

  84. Những đêm giao thừa Bác đến với người nghèo

  85. Nghĩa nặng tình sâu

  86. Những bông hoa trong vườn Bác

  87. Nhớ mãi hình ảnh Bác

  88. Những bài thơ xuân của Bác Hồ

  89. Những ngày ấu thơ hạnh phúc

  90. Người kể chuyện Bác Hồ của bản A La

  91. Những vết mạng trên áo Bác

  92. Nồng nàn tình yêu dân yêu tổ quốc

  93. Quyết giành cho được độc lập

  94. Sinh hoạt giản dị của Bác Hồ

  95. Tài ngoại giao của Bác

  96. Tài ứng khẩu của Bác

  97. Tài sản của dân sao tìm cách đút túi

  98. Tấm huân chương cao quí

  99. Từ một tách cà phê

  100. Thấu hiểu phong tục của dân tộc

  101. Thời gian quí báu lắm !

  102. Tiếng sáo Bác Hồ

  103. Thăm làng gốm bát tràng

  104. Thế mà cũng khoe

  105. Thép Bác Hồ

  106. Tình thương của Bác

  107. Tình cảm lớn lao của Bác Hồ với thương binh

  108. Tôi là người cộng sản như thế này này!

  109. Tự hào là chiến sĩ cảnh vệ của Bác

  110. Vàng là ở hai bàn tay

  111. Vừa đẹp vừa đỡ chói mắt đồng bào

  112. 50 năm Bác Hồ phát động Tết trồng cây

 

 

 

Trở về trang chủ