Chọn kiểu gõ: AUTO [F9] VNI TELEX VIQR VIQR* Tắt Kiểm tra chính tả Bỏ dấu kiểu cũ
Các Nhà Bác Học Vật Lý
  • Trang chủ
  • Diễn đàn
  • Tìm kiếm
  • Diễn đàn
  • Lịch
  • Thành viên
  • Đăng nhập
  • Đăng ký
  • Hộp Thư
Trang: [1]   Xuống
In
Tác giả Chủ đề: Các Nhà Bác Học Vật Lý  (Đọc 8265 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nguyenthienchi224
Giáo viên
Quản trị viên
Thành viên chính thức
*


Giới tính: Nam

Lớp: N/A
Trường: N/A
Khoá: N/A

Bài viết: 14
Thống kê Thanks
-Đã Thanks: 10
-Nhận được: 26
Điểm thưởng: 1

Offline Offline
« vào lúc: 27 Tháng Tư, 2009, 04:33:24 PM »
Acsimet
Archimedes(287-212 trước công nguyên): Acsimet là nhà giáo, nhà vật lỹ vĩ đại cổ Hy Lạp. Bảy tuổi đầu ông học Khoa học tự nhiên, triết học, văn học. Mười tuổi đi du học Ai Cập, là học sinh của nhà toán học nổi tiếng Ơclit, ông đã chứng minh thành công giá trị số pi nằm trong khoảng 3(1/7) và 3(10/71). Trong lĩnh vực vật lý học, ông đã có cống hiến đột xuất, chứng minh nguyên lý đòn bẩy và định luật về sức đẩy của nước tức là Định luật Acsimet. Ông là người đầu tiên biết tiến hành nghiên cứu kết hợp giữa thực tiễn kỹ thuật với suy diễn toán học, được mệnh danh là nhà ảo thuật toán học thông minh nhất cổ Hy Lạp.


TÔI ĐÃ PHÁT HIỆN RA RỒI


Ngày xửa ngày xưa, cổ Hy Lạp có một nhà toán học nổi tiếng là Acsimet, nhân dân cả nước đều khen ông là người thông minh tài trí.

Có một hôm tại Quốc vương muốn làm một chiếc vương miện mới và tất nhiên là phải thật đẹp rồi. Vua cho gọi một người thợ kim hoàn tới, đưa cho anh ta một thỏi vàng óng ánh yêu cầu anh ta phải làm nhanh cho vua chiếc vương miện.

Ko lâu vương miện đã được làm xong, nó được làm rất tinh vi mà lại còn đẹp nữa, vua vô cùng thích thú. Vua đội vương miện lên và đi đi lại lại trước mặt các đại thần. Lúc đó có tiếng thì thầm: “ Vương miện của bệ hạ đẹp quá nhưng ko biết có đúng đều là vàng thật ko?” Quốc vương nghe xong liền cho gọi người thợ kim hoàn tới, hỏi: “Chiếc vương miện người làm cho ta có đúng là toàn bằng vàng ko?”

Người thợ kim hoàn bỗng đỏ mặt, cúi xuống thưa với vua rằng: “Thưa bệ hạ tôn kính, số vàng Người cho con đã dùng hết, vừa đủ ko thừa cũng ko thiếu, nếu ko tin bệ hạ cho cân lại thử xem có đúng nặng bằng thỏi vàng Người đưa cho con ko ạ.”

Các đại thần đưa vương miện ra cân thử, quả là ko thiếu, vua đành phải thả người thợ kim hoàn về. Nhưng vua biết rằng lời nói của người thợ kim hoàn ấy khó có thể tin được vì rằng anh có thể dùng bạc để thay vàng với trọng lượng tương đương mà nhìn bề ngoài ko thể phát hiện ra được.

Quốc vương buồn phiền đem chuyện này nói với Acsimet, Acsimet nói với Quốc vương: “Đây quả là bài toán khó, con xin giúp người làm rõ chuyện này.”

Về đến nhà, Acsimet đem cân lại vương miện cùng thỏi vàng, đúng là trọng lượng bằng nhau. Ông đặt chiếc vương miện lên bàn ngắm nghía, ông suy nghĩ đến mức người phục vụ gọi ăn cơm mà vẫn ko biết.

Ông nghĩ: “Vương miện nặng đúng bằng thỏi vàng, nhưng bạc lại nhẹ hơn vàng, nếu như trong vương miện có trộn lượng bạc nặng đúng bằng lượng vàng lấy ra, như vậy chiếc vương miện này sẽ phải lớn hơn chiếc vương miện làm bằng vàng. Làm thế nào để nhận biết được thể tích của chiếc vương miện này và thể tích của chiếc vương miện là toàn bằng vàng cái nào lớn cái nào nhỏ đây? Chẳng lẽ phải làm một chiếc nữa, như vậy thì thật tốn công sức.” Acsimet lại nghĩ: “Đương nhiên có thể nấu lại chiếc mũ này và đúc thành vàng thỏi để xem nó có to bằng vàng cũ ko, nhưng như vậy chắc chắn vua sẽ ko đồng ý, tốt nhất phải nghĩ ra cách gì khác để so sánh thể tích của chúng. Nhưng cách gì đây?

Acsimet thông minh bỗng trở nên trầm lặng, ông vắt óc suy nghĩ mãi mà vẫn chưa tìm ra cách. Ông thường ngồi lặng lẽ cả buổi, mọi người nói ông “đang bí”.

Có một hôm Acsimet đang tắm, vì mải suy nghĩ để nước chảy đầy bồn tắm, sắp tràn cả ra ngoài, ông càng chìm người vào bể thì nước càng tràn ra ngoài nhiều. Acsimet như bừng tỉnh, mắt bỗng sáng lên, ông nhìn nước tràn ra ngoài bể và nghĩ rằng: số nước tràn ra có bằng với thể tích với phần cơ thể của ông chiếm trong bể nước ko? Ông rất vui, lập tức cho nước đầy vào bồn tắm và lại bước vào bồn sau đó làm lại một lần nữa. Ông bỗng vỗ tay reo lên: “Tôi đã phát hiện ra rồi, phát hiện ra rồi!” Ông quên cả mặc quần áo cứ thế reo lên và chạy ra khỏi nhà tắm.

Ngày thứ hai, Acsimet đã làm thực nghiệm trước mặt Quốc vương và các đại thần, đương nhiên có mặt cả người thợ kim hoàn để mọi người cùng xem. Ông thả vương miện và thỏi vàng cùng trọng lượng vào hai dụng cụ đựng nước có thể tích bằng nhau được chứa đầy nước, sau đó thu nước tràn ra ngoài vào hai bình đựng. Kết quả cho thấy nước ở bên vương miện tràn ra ít hơn bên thả thỏi vàng rất nhiều.

Acsimet nói: “Mọi người đều đã nhìn thấy. Rõ ràng là vương miện chiếm chỗ ở trong nước nhiều hơn so với thỏi vàng, nếu như vương miện đều là vàng thì lượng nước tràn ra ở hai bên sẽ bằng nhau, cũng tức là thể tích của chúng bằng nhau”.

Người thợ kim hoàn ko còn gì để nói nữa, Quốc vương bực tức trừng phạt anh ta. Đức vua rất vui vì Acsimet đã giúp vua giải được bài toán khó này, và thưởng hậu hĩnh cho Acsimet.


DIỆU KẾ ĐÁNH THẮNG ĐỊCH



Thời kỳ cổ Hy Lạp, giữa các nước nhỏ thường xảy ra chiến tranh, còn Acsimet ở một nước rất nhỏ có tên là Syracuse, ở đây cũng ko tránh khỏi tình trạng đó. Cho dù đã ở tuổi 73 nhưng ông vẫn tham gia chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

Lực lượng của kẻ địch hết sức hùng mạnh, tướng chỉ huy hải quan của chúng là một kẻ ngạo mạn và hung ác, nó chỉ huy 60 chiếc thuyền, dương oai diễu võ tiến vào Syracuse.

Acsimet sớm đã chuẩn bị nghênh chiếc, ông đã tính toán thiết kế một loại súng bắn đá, loại máy móc này giống như súng cao su bắn chim của các bạn nhỏ vậy, nhưng nó có thể bắn đi được những viên đá nặng hàng trăm kg.

Khi nhìn thấy kẻ thù đã đến gần, Acsimet mới lệnh: “bắn!” thế là từng viên đá lớn phóng ra rơi trên chiếc thuyền của kẻ địch, ko ít thuyện chiến bị phá hỏng, bọn địch sợ khiếp vía chạy tháo thân. Bị tổn thất chúng đành phải rút lui, rồi bàn nhau tìm cách đánh tiếp. Có đứa trong chúng đưa ra đề nghị, sẽ đánh vào ban đêm, ko để đèn, ko thổi kèn, lặng lẽ tiến lên, đợi khi tiến sát chân thành Syracuse lúc ấy vũ khí của Acsimet phát minh sẽ ko thể sử dụng được nữa.

Thủ lĩnh của quân địch cười vang: “Hãy để cho những hòn đá đáng ghét ấy rơi xuống biển sâu, doạ cá, ngày mai chúng ta đứng ở cung điện Syracuse”.

Đêm đã đến, cả khoảng đêm yên tĩnh, chỉ còn nghe thấy tiếng sóng biển đập vào bờ đá, chiến thuyền của kẻ địch lặng lẽ đến ngoài thành.

Lúc này binh sỹ đã dựng thang, chuẩn bị phá cổng thành.

Từ phía trên cái đầu nóng của quân thù là tiếng “két két”, trên tường hình như có cả bóng người di động. “Cũng chẳng sợ, kiểu gì thì những hòn đá lớn kia cũng ko thể bắn vào chúng ta được”. Tuy là nghĩ vậy nhưng kẻ địch vẫn cảm thấy lo lắng.

Tiếng “két két” vẫn vang đều đều, tiếng vang ngày càng lớn. Ko biết Acsimet đang làm trò gì? Acsimet vẫn đang chỉ huy quân sỹ chuẩn bị máy bắn đá, chỉ có điều lần này lại là loại khác. Ông buộc một tấm ván chỉ có một đầu vừa mỏng vừa rộng vào những cái gân bò, một đầu của nó xếp đầy những hòn đá to nhỏ các loại, những sợi gân bò này được nối với một tay quay kiểu trục quay, khi những sợi gân bò được xoắn thật chặt thì buông lỏng tay, đầu ván bật lên mạnh, những viên đá bắn thẳng lên trời rồi rơi thẳng xuống, đánh trúng vào những chiến thuyền đang áp át bờ và bọn binh sỹ, có một hòn đá đã đập trúng đầu của tên chỉ huy.

Kẻ thù điên cuồng phải chấp nhận thất bại một lần nữa.

Kẻ thù vẫn ko chịu can tâm thất bại, chúng lại phát động cuộc tấn công lần thứ ba.

Một ý nghĩ chợt loé lên trong đầu Acsimet. “Đúng, hãy dùng cách này, mặt trời thánh thần, mong người có thể giúp đỡ tôi cứu lấy những người dân Syracuse lương thiện.” Ông ra lệnh một cách cương quyết, yêu cầu mỗi người phụ nữ phải đem gương soi của mình đến tập trung ở ngoài bờ biển.

Quân địch nhìn thấy rất nhiều phụ nữ mặc áo dài trắng đứng trên bờ biển, tên chỉ huy có chút ngờ vực “tại sao họ lại ko đi ẩn nấp? Đứng đó để làm gì?” Nhưng nó nhìn thấy những người phụ nữ này ko cầm vũ khí liền yên tâm, lệnh cho chiến thuyền tiến lên, chuẩn bị đánh.

Bỗng nhiên một tia sáng chói mắt từ phía cảng chiếu tới. Rồi từng cột ánh sáng di động và cuối cùng tập trung tại một điểm, điểm đó sáng chói loà, nóng như đốt. Nó rọi vào cánh buồm lớn của chiếc thuyền chiến đi đầu.

Cánh buồm bốc ra một làn khói nhẹ, ko biết từ đâu bốc ra mùi khét giẻ cháy. Đang lúc mọi người đang cảm thấy kì lạ bỗng có tiếng kêu lên hốt hoảng: “Ôi, buồm cháy rồi, buồm cháy rồi!”

Mọi người trên chiếc thuyền đều muốn dập tắt lửa, nhưng ko thể với tới được, gió biển thổi nhẹ, ngọn lửa đỏ nhảy múa theo gió, trong chốc lát cả cánh buồm lửa, ngọn lửa bùng cháy lên trước gió.


HÃY ĐỢI CHO MỘT CHÚT ĐÃ



Sau mấy lần thất bại, kẻ địch xin đình chiến và trao đổi tù binh. Nhân dân Syracuse vốn yêu chuộng hoà bình cho nên đã chấp nhận ngay lời đề nghị của họ.

Acsimet lương thiện cho rằng kết thúc chiến tranh, ông lại có thể suy nghĩ về những hình vẽ và những vấn đề trên bãi biển của ông. Nhân dân Suracuse cũng cho rằng trao đổi tù binh đồng nghĩa với việc chiến tranh kết thúc, họ chuẩn bị ăn mừng thắng lợi.

Ngày ăn mừng thắng lợi đã đến, mọi người múa hát, uống rượu mừng, cả thành phố chìm trong hạnh phúc. Mãi đến đêm khuya khi mọi người đã rượu say mới lục đục kéo về nhà nghỉ, ngay cả những binh sỹ đứng gác cũng rượu say lơ mơ dựa vào tường thành, ngủ gà ngủ gật.

Nhưng chính vào lúc này, mấy chiếc thuyền nhỏ lặng lẽ rẽ sóng biển, cập bến và luồn vào thành, gần như ko có một binh sỹ nào biết, chúng chia đi các ngả trấn giữ.

Ngày thứ hai, trời vừa sáng thì người dân Syracuse vẫn chưa tỉnh giấc mộng thì tiếng kèn lệnh của quân thù đã vang lên ở khắp nơi trong thành.

“Hỏng rồi! Kẻ thù đã vào trong thành.”

“Đất nước đã bị kẻ thù chiếm mất rồi.”

Mọi người đều kinh hoàng, chạy toán loạn, bỗng chốc ko có chỉ huy, ko có tổ chức, càng ko có chuẩn bị, họ biến thành những hạt cát rời, mất sức chiến đấu.

Kẻ địch vào được trong thành thừa cơ mở cửa thành, kẻ thù dễ dàng kéo vào thành.

Acsimet đang ở đâu? Ông đang miệt mài với những công việc của mình trên bãi cát, quân địch tiến vào thành ông ko để ý. Ông ko nghe thấy tiếng hét của kẻ thù cũng ko nghe thấy tiếng kêu cứu của đồng bào của ông.

Bỗng nhiên có một cái bóng đen chắn phía trước mặt Acsimet, lấy chân đạp lên những hình vẽ của ông. Acsimet tỏ ra bực mình vì đất nước ông ko có người nào lại mất lịch sự với ông như vậy. “Này ông giầm hỏng hết những hình vẽ của tôi rồi, tránh ra!”

Nhưng những tên lình xâm lược kia đâu có biết ông là ai, chúng nghe thấy có người dám mắng chúng, liền gầm lên là sẽ giết ông.

Lúc đó Acsimet mới biết đang đứng trước mặt ông là quân thù. Ông trầm trọng nói với tên lính này rằng: “Xin lỗi, xin ông đợi cho một chút có được ko? Đừng làm hỏng những hình vẽ của tôi, tôi phải giải xong nó đã.”

Nhưng tên lính ko hiểu biết kia càng ko biết qúy trọng khoa học, nó đã giết chết Acsimet một cách ko thương xót. Năm đó Acsimet đã là vị cao niên 75 tuổi.

Tên chỉ huy quân địch sau khi tiến vào thành đã đi khắp nơi tìm Acsimet, đã ra lệnh ko được sát hại ông già đầy trí tuệ này, ông ta hết sức khâm phục Acsimet. Sau khi biết tin Acsimet đã bị giết ông ta tỏ ra vô cùng thương tiếc. Ông đã đuổi hung thủ ra khỏi thành sau đó tổ chức mai táng Acsimet rất long trọng đồng thời cho lập bia mộ.

Acsimet sống cách chúng ta hơn 2000 năm trước, nhưng trí tuệ của ông, phẩm chất đạo đức của ông cùng rất nhiều câu chuyện về ông vẫn được lưu truyền đến ngày nay, những phát minh kiệt suất, những phát hiện kì lạ của ông đã vượt qua thời gian và ko gian trở thành tài sản vĩnh hằng của nhân loại.

 (Sưu Tầm)
Logged
Mr But
nguyenvandien
Quản trị viên
Thành viên kỳ cựu
*


Giới tính: Nam

Lớp: 12A2
Trường: Đông Thụy Anh - Thái Bình
Khoá: 1993 - 1996

Bài viết: 1296
Thống kê Thanks
-Đã Thanks: 222
-Nhận được: 844
Điểm thưởng: 1

Offline Offline
luahongyeu Email
« Trả lời #1 vào lúc: 28 Tháng Tư, 2009, 08:41:25 PM »
Hiểu thêm về acsimet rồi đấy. Nhưng thầy ơi, chủ đề là các nhà bác học vật lý mà thầy post có 1 nhà bác học thôi sao?, không lô gic lắm .... hi
Logged
Chữ ký của Mr But
nguyenthienchi224
Giáo viên
Quản trị viên
Thành viên chính thức
*


Giới tính: Nam

Lớp: N/A
Trường: N/A
Khoá: N/A

Bài viết: 14
Thống kê Thanks
-Đã Thanks: 10
-Nhận được: 26
Điểm thưởng: 1

Offline Offline
« Trả lời #2 vào lúc: 29 Tháng Tư, 2009, 03:08:02 AM »
Vài hôm nữa rảnh lại tới các nhà vật lý khác. Thời gian còn dài mà ....
Logged
Vạn Lý Độc Hành
Thành viên gắn bó
*****


hướng về tương lai tươi đẹp !!!!

Giới tính: Nam

Lớp: 12a2
Trường: THPT Chơn Thành
Khoá: 2008-2009

Bài viết: 356
Thống kê Thanks
-Đã Thanks: 39
-Nhận được: 109
Điểm thưởng: 1

Offline Offline
daiduong_tinhyeu65 WWW Email
« Trả lời #3 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2009, 01:24:33 PM »

http://i476.photobucket.com/albums/rr127/acsimet/uewb_06_img0421.jpg
Các Nhà Bác Học Vật Lý

Tsung Dao Lee sinh ngày 24 tháng 11 năm 1926 tại Thượng Hải (Trung Quốc). Ông là con thứ ba trong số sáu người con của Tsing Kong Lee, hành nghề buôn bán và Ming Chang Chang.

Lee học trường Trung học Kiangsi ở Kanchow, Kiangsi và tốt nghiệp phổ thông năm 1943. Ông không trúng tuyển vào Đại học quốc gia Chekiang ở tỉnh Kweichow. Sự xâm lược của Nhật buộc ông chuyển đến Côn Minh (Kunming) thuộc Yunnan. Ông vào Đại học quốc gia Tây Nam và ở đó ông gặp Chen Ning Yang – người cùng chia sẻ Giải Nobel Vật lý năm 1957.

Là một sinh viên có triển vọng nhất về Vật lý, năm 1946, ông được nhận học bổng của Chính phủ Trung Quốc để đi tu nghiệp tại Đại học Chicago. Ở đây ông đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài về “Hàm lượng hydro của các ngôi sao lùn trắng” (White Dwart Star) vào năm 1950. Trong một vài tháng năm 1950, ông là cộng tác viên nghiên cứu ở Đài Thiên văn Yerkes tại hồ Geneva (Wisconsin).

Từ năm 1950 đến năm 1951, tiến sĩ Lee là cộng tác viên nghiên cứu và giảng viên ở Đại học California tại Berkeley và sau đó là thành viên của Viện cao học Princeton, New Jersey từ năm 1951 đến năm 1953. Ở đây ông có dịp làm việc phối hợp cùng với người bạn của mình là tiến sĩ Yang.

Lee nhanh chóng trở thành một nhà khoa học nổi tiếng, đặc biệt là đối với các công trình của ông trong Cơ học thống kê, trong Vật lý hạt nhân và dưới hạt nhân. Ông đã giải quyết được một số bài toán đã có từ lâu và rất phức tạp. Tiến sĩ J. Oppenheimer ca ngợi ông như một trong những nhà Vật lý lý thuyết xuất sắc nhất mà ông từng biết và cho rằng các công trình của ông đặc trưng bởi “sự mới mẻ, linh hoạt và phong cách đặc biệt”.

Ngoài các chủ đề về sự không bảo toàn chẵn lẻ (đưa ông đến Giải Nobel), Cơ học thống kê và Vật lý hạt nhân như đề cập trên đây, các nghiên cứu của ông còn bao trùm lý thuyết trường, Vật lý thiên văn và hiện tượng cuộn xoáy (turbulence).

<!--[endif]--> Lee là trợ lý giáo sư (1953), phó giáo sư (1955) và giáo sư (1956) tại Đại học Columbia. Vào tuổi 29, ông là giáo sư Vật lý trẻ nhất của Đại học Columbia. Lee nhận Giải Nobel ở tuổi 31 và trở thành nhà khoa học trẻ thứ hai trong lịch sử được nhận giải thưởng khoa học cao nhất này. 

Nhà khoa học trẻ nhất nhận Giải Nobel là Huân tước Lawrence Bragg. Lawrence Bragg chia sẻ giải này cùng với cha mình vào năm 1915 khi ông mới 25 tuổi.

Cùng với tiến sĩ Yang, Lee viết một số bài báo quan trọng trên tạp chí nổi tiếng Tổng quan Vật lý (The Physical Review). 

Giáo sư Tsung Dao Lee đã được trao tặng Giải thưởng khoa học tưởng nhớ Albert Einstein của Đại học Yeshiva (New York) (1957), Giải thưởng khoa học của Báo Guild (New York). Ông là thành viên Hội Vật lý Mỹ và Academia Sinica và được trao bằng tiến sĩ khoa học của Đại học Princeton (1958).

Lee cưới vợ là Hui Chung Chin (Jeannette), trước là sinh viên đại học vào năm 1950.

Những trò tiêu khiển ưa thích của Lee chơi cùng hai cậu con trai James và Stephen và đọc tiểu thuyết trinh thám.

Trích từ Danh nhân châu Á, gốc châu Á đoạt giải Nobel
[/b]
Logged
Chữ ký của Vạn Lý Độc Hành
"hay cho tôi 1 cơ hội, tôi sẽ làm bạn hanh phúc"
[12a1]_BERND
Member of UEH
VIP Member
Thành viên kỳ cựu
*


Hạnh Phúc Là Rất Đơn Giản

Giới tính: Nam

Lớp: 18_QTKD
Trường: UEH
Khoá: K36

Bài viết: 712
Thống kê Thanks
-Đã Thanks: 69
-Nhận được: 116
Điểm thưởng: 2

Offline Offline
phannguyen165192@gmail.com cryonmyshoulder16592 Email
« Trả lời #4 vào lúc: 05 Tháng Năm, 2009, 12:04:18 AM »
Newton (1642 - 1727) sinh ra trong một trang trại nhỏ ở Anh. Do bố mất sớm, mẹ đi lấy chồng khác nên ông không được sống trong cảnh giàu sang và cũng không có môi trường giáo dục tốt. Ông đã dựa vào sự cố gắng học tập và sự vượt qua khó khăn trong thời kỳ trung học và Đại học để đạt được trí tuệ hơn người và sức sáng tạo phi phàm.
        Newton trong những năm học đại học đã từng học và nghiên cứu 3 định luật của Kepler, những thí nghiệm về vật rơi tự do của Galilei, lý luận vòng xoáy của Descartes. Năm 1665, khi về quê tránh bệnh địch truyền nhiễm, ông bắt đầu nghiên cứu vấn đề trọng lực, ông định đưa vào lực của trái đất để chỉ rõ sự vận động của hành tinh. Đồng thời ông đã bước đầu định hình "phương pháp hữu số” (phương pháp tích phân vi phân), và tiến hành thí nghiệm khoa học phân giải ánh sáng mặt trời. Năm 1667, Newton trở lại Trường Đại học Cambridge ông trở thành thành viên nghiên cứu của Học viện Tam nhất, ông tiếp tục nghiên cứu lực học, quang học, toán học. Năm 1669, Giáo sư Bassou - thầy giáo của Newton cho rằng tài năng và trình độ học vấn của Newton vượt hơn người một bậc do vậy ông đã chủ động nhường chức vị Giáo sư cho Newton, người mới tròn 26 tuổi. Năm 1672 Newton trở thành thành viên của hội học thuật Hoàng gia Anh, về sau ông trở thành hội trưởng của hội học thuật hoàng gia Anh cho đến khi qua đời. Năm 1684 ông lại một lần nữa nghiên cứu lý luận về lực hấp dẫn và đạt được thành quả to lớn, được đồng nghiệp đánh giá cao. Năm 1686, dưới sự đốc thúc của Haliey và bạn bè, Newton bắt đầu viết cuốn Nguyên lý toán học của triết học tự nhiên, cuốn sách tổng kết và đưa ra những thành quả nghiên cứu của Newton trên lĩnh vực lực học và toán học.Ở thời đại của Newton, khoa học và triết họ không hề tách riêng, từ "triết học" có hàm ý là khoa học và triết học. Cuốn sách Nguyên lý chủ yếu lập công ở phương điện khoa học còn về mặt tư tưởng triết học cũng có sự nhìn thấu siêu quần. Nó không chỉ là cột mốc đánh đấu trong lịch sử khoa học mà còn là ngọn đèn hoa tiêu trong nghiên cứu khoa học. Nguyên lý vừa xuất bản đã giành được sự ca ngợi của các nhà khoa học và triết học. Nhà thiên văn học Laplace của thế kỷ XVIII cho rằng: Nguyên lý đã đạt đến giới hạn cao nhất mà khoa học vật lý có thể dạt tới", là "kiệt tác vượt trên mọi sản phẩm của trí tuệ loài người".

           Không có gì quở trách khi Newton trở thành người khổng lồ trong lĩnh vực khoa học, nhưng ông lại chỉ coi mình "là người đứng trên vai những người khổng lồ", còn Einstein lại cho rằng: "Số phận đã khiến ông trở thành bước chuyển ngoặt lịch sử của lí trí nhân loại"

sưu tầm và tổng hợp
Logged
Chữ ký của [12a1]_BERND
Just because someone doesn't love you the way you want them to, doesn't mean they don't love you with all they have

[12a1]_BERND
Member of UEH
VIP Member
Thành viên kỳ cựu
*


Hạnh Phúc Là Rất Đơn Giản

Giới tính: Nam

Lớp: 18_QTKD
Trường: UEH
Khoá: K36

Bài viết: 712
Thống kê Thanks
-Đã Thanks: 69
-Nhận được: 116
Điểm thưởng: 2

Offline Offline
phannguyen165192@gmail.com cryonmyshoulder16592 Email
« Trả lời #5 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2009, 01:09:45 PM »
http://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/9/91/Faraday.jpg
Các Nhà Bác Học Vật Lý


Michael Faraday (22 tháng 9 năm 1791 - 25 tháng 8 năm 1867) là nhà vật lý và nhà hóa học người Anh. Ông có nhiều cống hiến to lớn trong lĩnh vực điện từ học.

Các thí nghiệm của ông về chuyển động quay điện từ đặt nền móng cho công nghệ về động cơ điện hiện đại. Ông phát triển định luật cảm ứng Faraday trong điện từ học.

Về mặt hóa học, ông khám phá ra các hợp chất hóa học chẳng hạn như benzen và hệ thống số ôxy hóa, đồng thời phổ biến các khái niệm ion, anode, cathode, electrode.

Đơn vị đo điện dung Farad trong hệ SI được đặt theo tên ông.

Cải tiến quan trọng đầu tiên về điện của Faraday được thực hiện năm 1821. Hai năm trước đó, Oersted đã tìm ra rằng kim của một chiếc la bàn nam chăm bình thường có thể bị làm lệch hướng nếu có một dòng điện chạy qua một đoạn dây điện gần đó. Điều này gợi ý cho Faraday rằng nếu nam châm được cố định thì thay vào đó, dây điện có thể dịch chuyển. Nghiên cứu theo hướng này, ông đã thành công trong việc chế tạo nên một công cụ thông minh, trong đó sợi dây điện có thể liên tục xoay trong vùng chịu tác động của từ trường trong khi có một dòng điện chạy qua sợi dây. Thực ra đó chính là động cơ điện đầu tiện, công cụ đầu tiên sử dụng một dòng điện để khiến một vật chuyển dịch.

Tuy nhiên, tác dụng của phát minh trên vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân là vì không có một nguồn sản sinh dòng điện nào ngoài loại pin hóa học nguyên thủy thời đó. Faraday tin chắc rằng phải có một cách nào đó sử dụng lực từ để phát điện, ông kiên trì tìm kiếm một phương pháp như thế. Vào năm 1831, ông phát hiện ra rằng nếu một nam châm chuyển động ngang qua một vòng dây điện khép kín thì một dòng điện sẽ chạy trong dây trong thời gian nam châm chuyển động qua. Hiệu ứng này gọi là cảm ứng điện từ. Và sự khám phá ra định luật tạo ra hiệu ứng này (định luật Faraday) được công nhận là thành tựu cá nhân vĩ đại nhất của Faraday.

Ông còn khám phá ra rằng, nếu ánh sáng phân cực đi qua một từ trường, độ phân cực của nó sẽ thay đổi. Đây là sự định hướng đầu tiên chỉ ra rằng có mối quan hệ giữa ánh sáng và điện từ.

Ngày 20 tháng 3 năm 1862 là ngày cuối cùng đánh dấu công việc nghiên cứu của Faraday. Trong cuốn sổ ghi kết quả nghiên cứu của ông người ta đọc được con số thí nghiệm cuối cùng của ông: 16041.

Mùa hè năm 1867, Faraday ốm nặng, ông bị điếc và mất trí nhớ, nhưng nhìn ông, người ta vẫn cảm thấy ông đang suy tưởng như cả đời ông chưa bao giờ ngừng suy tưởng. Trong những dòng nhật kí cuối cùng của ông, có những lời sau: “…Tôi thật sự thấy luyến tiếc những năm sống đầy hạnh phúc, trong niềm say mê làm việc và trong ước mơ tìm đến những phát minh. Thật đáng buồn khi tôi biết mình sắp từ giã cõi đời, và sẽ không bao giờ được trở lại những ngày sôi nổi… Đối với các bạn trẻ, tôi chỉ có một lời khuyên để lại, rút ra từ kinh nghiệm cuộc sống: hãy làm việc và suy nghĩ đi ngay cả khi chưa nhìn thấy một tia sáng nhỏ bé, vì dù sao, như vậy vẫn còn hơn là ngồi không!…”

Ngày 25 tháng 8 năm 1867 là ngày nhà bác học vĩ đại ấy từ giã cõi đời. Ông chết đi để lại cho toàn nhân loại một phát minh bất tử, một phát minh mang tính bản lề cho mọi phát minh của loài người sau này. Bài viết kết thúc ở đây với lời nhà khoa học Hemhônxơ ngưòi Đức đã nói: “Chừng nào loài người còn sử dụng đến điện, thì chừng đó mọi người còn ghi nhớ công lao của Micheal Faraday.”.

sưu tầm
Logged
Chữ ký của [12a1]_BERND
Just because someone doesn't love you the way you want them to, doesn't mean they don't love you with all they have

Vạn Lý Độc Hành
Thành viên gắn bó
*****


hướng về tương lai tươi đẹp !!!!

Giới tính: Nam

Lớp: 12a2
Trường: THPT Chơn Thành
Khoá: 2008-2009

Bài viết: 356
Thống kê Thanks
-Đã Thanks: 39
-Nhận được: 109
Điểm thưởng: 1

Offline Offline
daiduong_tinhyeu65 WWW Email
« Trả lời #6 vào lúc: 16 Tháng Năm, 2009, 06:34:08 PM »
Liệu Archimède có thể nhấc bổng trái đất?


"Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nhất bổng trái đất lên !" - tục truyền đó là lời của Archimède,một nhà cơ học thiên tài thời cổ, người đã khám phá ra các định luật về đòn bẩy. Nhưng bạn có biết muốn nâng một vật nặng bằng trái đất lên cao dù chỉ  1 cm thôi, Acsimet sẽ mất bao nhiêu thời gian không? Không dưới ba mươi nghìn tỷ năm!

http://i476.photobucket.com/albums/rr127/acsimet/archimedes.gif
Các Nhà Bác Học Vật Lý

Có lần Archimède viết thư cho vua Hieron ở thành phố Cyracuse, là người đồng hương và cũng là bạn thân của ông rằng, nếu dùng đòn bẩy, thì với một lực dù nhỏ bé đi nữa, cũng có thể nâng được một vật nặng bất kỳ nào: chỉ cần đặt vào lực đó một cánh tay đòn rất dài của đòn bẩy, còn vật nặng thì cho tác dụng vào tay đòn ngắn. Và để nhấn mạnh thêm điều đó, ông viết thêm rằng nếu có một trái đất thứ hai, thì bước sang đấy ông sẽ có thể nhấc bổng trái đất của chúng ta lên.

Nhưng, giá như nhà cơ học thiên tài thời cổ biết được khối lượng của trái đất lớn như thế nào thì hẳn ông đã không “hiên ngang” thốt lên như thế nữa. Ta hãy thử tưởng tượng trong một lát rằng Archimède có một trái đất thứ hai, và có một điểm tựa như ông đã muốn; rồi lại tưởng tượng thêm rằng ông đã làm được một đòn bẩy dài đến mức cần thiết. Nhưng kể cả khi đã có mọi thứ, muốn nâng trái đất lên cao dù chỉ 1 cm thôi, Archimède sẽ phải bỏ ra không dưới ba vạn tỷ năm! Sự thật là như thế đấy. Khối lượng của trái đất, các nhà thiên văn đã biết, tính tròn là:

60 000 000 000 000 000 000 000 000 N
[/size]

Nếu một người chỉ có thể trực tiếp nâng bổng được một vật 600 N, thì muốn “nâng trái đất” lên, anh ta cần đặt tay của mình lên tay đòn dài của đòn bẩy, mà tay đòn này phải dài hơn tay đòn ngắn gấp:

100 000 000 000 000 000 000 000 lần!
[/size]

Làm một phép tính đơn giản bạn sẽ thấy rằng khi đầu mút của cánh tay đòn ngắn được nâng lên 1cm thì đầu mút kia sẽ vạch trong không gian một cung “vĩ đại”, dài: 1 000 000 000 000 000 000 km.Cánh tay Archimède tỳ lên đòn bẩy phải đi qua một đoạn đường dài vô tận như thế chỉ để nâng trái đất lên 1 cm ! Thế thì ông sẽ cần bao nhiêu thời gian để làm công việc này? Cho rằng Archimède có đủ sức nâng một vật nặng 600 N lên cao một mét trong một giây (khả năng thực hiện công gần bằng 1 mã lực!) thì muốn đưa trái đất lên 1 cm, ông ta phải mất một thời gian là:

1 000 000 000 000 000 000 000 giây, hoặc ba vạn tỷ năm!
[/size]

Archimède dành suốt cả cuộc đời dài đằng đẵng của mình cũng chưa nâng được trái đất lên một khoảng bằng bề dày của một sợi tóc mảnh….

Không có một thứ mưu mẹo nào của nhà phát minh thiên tài lại có thể nghĩ ra cách rút ngắn khoảng thời gian ấy được. “Luật vàng của cơ học" đã nói rằng bất kỳ một cái máy nào, hễ làm lợi về lực thì tất phải thiệt về đường đi. Vì thế, ngay như Archimède có cách để làm cho cánh tay mình có được vận tốc lớn nhất có thể trong tự nhiên là 300.000 km/s (vận tốc ánh sáng) thì với cách giả sử quãng đường này, ông cũng phải mất 10 vạn năm mới nâng được trái đất lên cao 1 cm!

Trích từ e-book Vat Ly Vui
Logged
Chữ ký của Vạn Lý Độc Hành
"hay cho tôi 1 cơ hội, tôi sẽ làm bạn hanh phúc"
_[Chuột]_Đồng_
Hoạt động bí mật
VIP Member
Thành viên kỳ cựu
*


Hiên ngang- Anh dũng

Giới tính: Nam

Lớp: 12A1
Trường: Chơn Thành
Khoá: 2008 - 2009

Bài viết: 649
Thống kê Thanks
-Đã Thanks: 112
-Nhận được: 66
Điểm thưởng: 4

Offline Offline
Email
« Trả lời #7 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2009, 10:40:39 PM »
Nhà vật lý Albert Einstein và những lá thư chứa đầy bí mật bất ngờ

http://i460.photobucket.com/albums/qq327/kubin_1991/images.jpg
Các Nhà Bác Học Vật Lý

GS Fans Rush, khi đó là giảng viên vật lý tại một trường đại học kỹ thuật ở Trực Lệ (tên gọi của tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc trước năm 1928) mở cái phong bì thư cũ kỹ ra. Trong đó là một tờ giấy có dính những vết mực, được ghi bằng nét chữ nguệch ngoạc như của trẻ con.

Năm 1921, lá thư này đã phải vượt qua một đoạn đường xa từ nước Đức tới tận Trung Hoa. "Tôi đang phải sống một cuộc sống náo động và vội vã. Tôi không có cả thời gian để dừng lại mà suy ngẫm nữa. Những phát minh vĩ đại, đó là sứ mệnh của những người trẻ chứ không phải của tôi" - người viết lá thư này than thở với GS. Người đó chính là Albert Einstein.

Lá thư trên của Einstein là một trong những tài liệu lần đầu tiên được công bố trong tập 12 của bộ toàn tập các tài liệu liên quan tới nhà bác học vĩ đại này. Lá thư được các nhân viên của Viện Kỹ nghệ California biên soạn và vừa được công bố trong mùa hè năm 2009. Trong bộ toàn tập có hơn 100 lá thư cũng như một số bài trả lời phỏng vấn và bài giảng của Albert Einstein.

GS Rush không nhìn thấy bất cứ sự làm mình làm mẩy nào của Einstein trong những lời than phiền đó. Khi nhà vật lý vĩ đại viết lá thư trên, những công trình chính yếu của đời ông - lý thuyết tương đối hẹp và &nbsp;lý thuyết tương đối tổng quát - đều đã được hoàn thành. Einstein dần dà ít quan tâm hơn tới vật lý và từ một nhà bác học chỉ được một hữu hạn không đông những nhà vật lý biết tới đã trở thành một "người của công chúng" trên quy mô toàn cầu.

Những lá thư mới được công bố năm nay của ông đã giúp chúng ta nhìn thấy ông dưới một ánh sáng tương đối bất ngờ - ông đã bớt phần là một nhà vật lý lý thuyết và thêm nhiều phần là một ... nhà hoạt động chính trị xã hội. &nbsp;Nhưng có lẽ đổ thêm dầu vào lửa của những cuộc tranh luận lịch sử sẽ là những tài liệu khác nữa, cũng có trong bộ toàn tập trên. Những tài liệu này có thể được sử dụng để gián tiếp chứng tỏ rằng, khi xây dựng những lý thuyết khoa học của mình, Einstein có thể đã sử dụng kết quả nghiên cứu của những nhà khoa học khác mà lại không nêu tên của họ ra.

Lý thuyết và thực tế

 1921, Einstein lần đầu tiên sau nhiều năm rời khỏi ngôi nhà của mình ở Berlin để đi du lịch tại châu Âu và châu Mỹ. Ông đã nay đây mai đó tới hơn một năm rưỡi và chỉ riêng ở Mỹ đã đọc tới 17 bài giảng về các lý thuyết khoa học của mình.

Nhưng mục tiêu chính trong chuyến &nbsp;đi sang bên kia đại dương, tới châu Mỹ, của ông không phải là quảng bá khoa học, mà là để tìm kiếm phương tiện. Nhà vật lý vĩ đại quyên góp tiền để xây dựng một trường đại học tổng hợp Do Thái. Cũng ở Mỹ, Einstein đã tham gia quyên góp tiền ủng hộ cho việc xây nhà định cư cho người Do Thái ở Palestine. Với Einstein, tham gia vào đời sống chính trị xã hội không thể là việc xa lạ. Chỉ có một điều duy nhất mà ông luôn bác bỏ: đó là sự dính líu tới bất cứ một tôn giáo nào. "Tôi không có ý định vào bất cứ một cộng đồng tôn giáo nào và sẽ tiếp tục không theo bất cứ một tín ngưỡng nào" - nhà vật lý vĩ đại viết trong thư gửi cộng đồng Do Thái ở Berlin như thế.

Tất nhiên, những hành động như thế của Einstein đã không được những nhân vật thủ cựu hay cực đoan trong cộng đồng các nhà khoa học ở Đức tán thành. Và những người này đã lên tiếng phê phán ông. Thậm chí ngay cả nhà hóa học từng được giải thưởng Nobel &nbsp;năm 1918, Fritz Haber, đã công khai gọi những mối quan hệ trong các chuyến du lịch ra nước ngoài của Einstein là "phản bội nước Đức". Tình hình trở nên nghiêm trọng hơn bởi việc Einstein tham gia vào tổ chức vì hòa bình "Tổ quốc mới".

Năm 1921, tổ chức này trong một bản tuyên ngôn được công bố rộng rãi đã lên tiếng phê phán mạnh mẽ việc giải trừ quân bị quá chậm trễ của Berlin. Các tác giả của bản tuyên ngôn đó kêu gọi nước Pháp không nên rời mắt khỏi chính phủ mới ở Đức và khi cần thiết thì không được chần chừ can thiệp vũ trang. Thái độ của Eisntein dĩ nhiên đã làm các phần tử cánh hữu ở Đức nổi giận và &nbsp;ngay trong năm 1921 trên một tạp chí thiên hữu ở đây đã xuất hiện những lời kêu gọi "thanh toán" nhà vật lý vĩ đại này.

Trong con mắt của những bộ phận xã hội lành mạnh, quyết định không xa rời chính trị của Einstein không hề ảnh hưởng gì tiêu cực đối với danh tiếng của nhà vật lý vĩ đại. Thậm chí, ngược lại, càng làm đẹp thêm hình ảnh của ông và khiến ông càng được ưa chuộng. Những bài viết về lý thuyết tương đối hẹp và lý thuyết tương đối tổng quát được công bố năm 1905 và 1915 đã mang lại danh tiếng cho ông chỉ trong một bộ phận khá nhỏ hẹp các chuyên gia. Còn phần thế giới còn lại đã chỉ nhắc tới tên Einstein vào năm 1919. Việc này diễn ra nhờ nhà thiên văn vật lý người Anh Arthur Eddington. Ông Eddington từ lâu đã có cảm tình với tâm lý ưa chuộng hòa bình của Einstein.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, người Anh và người Pháp đã không mời các nhà vật lý Đức sang tham gia các cuộc hội thảo khoa học và cũng không thảo luận một cách nghiêm túc các công trình nghiên cứu của họ. Lý thuyết tương đối tổng quát của Einstein đã gây ấn tượng rất mạnh mẽ đối với Eddington và ông này đã làm mọi việc để mọi người ở Anh phải đề cập tới nó. Chính với sự hậu thuẫn của nhà khoa học Anh này mà Hội Thiên văn học Hoàng gia đã bỏ ra kinh phí để kiểm tra sự đúng đắn của lý thuyết tương đối.

"Đối với một người đấu tranh cho sự nghiệp hòa bình như Eddington, rất quan trọng là phải làm sao xây dựng được một thí dụ về sự hợp tác quốc tế và chứng minh tính chân lý của lý thuyết tương đối của Einstein, người cũng kiên trì những cái nhìn chính trị như thế" - GS Aleksye Kozhevnikov ở Khoa Lịch sử Trường Đại học Anh Columbia nhận xét.

Theo lý thuyết cơ khí cổ điển của Newton, những tia ánh sáng khi đi ngang qua gần một vật thể có khối lượng lớn nào đó sẽ phải lệch đi một cách rõ rệt &nbsp;- bởi dòng ánh sáng bị tác động bởi lực hấp dẫn. Lý thuyết tương đối tổng quát cũng dự kiến sự lệch đi đó của ánh sáng, nhưng gấp đôi tới hai lần. Theo lý thuyết của Einstein, quỹ đạo của các tia sáng sẽ phải thay đổi vì độ cong của không gian.

Một đoàn các nhà thiên văn học Anh đã sang châu Phi để quan sát cảnh nhật thực. Trong thời gian diễn ra nhật thực, họ đã đo các chỉ số của dòng ánh sáng từ một ngôi sao. Ánh sáng của ngôi sao này đi ngang qua gần mặt trời và lệch đi đúng bằng những gì mà Einstein đã tiên đoán. Eddington đã thông báo về nước Anh các kết quả thực nghiệm của mình và cả thế giới bắt đầu nhắc tới Einstein. Tờ báo Anh The Times đã ra số báo đặc biệt với dòng tít in to và đậm ngay trên trang nhất: "Cách mạng trong khoa học - Lý thuyết mới của vũ trụ - Các tư tưởng của Newton đã bị bác bỏ".

Quả thực đã tới lúc nói tới một cuộc cách mạng thực sự trong vật lý. "Điều này đã trở thành sự chấn động, - GS Kozhevnikov nói. - Những ồn ào xung quanh sự kiện đó không thua kém gì so với khi phóng được vệ tinh đầu tiên lên quỹ đạo".

Nhưng bất chấp kết quả vang dội và tất cả những nỗ lực của Eddington, Hội Thiên văn học Hoàng gia đã không trao tặng ngay cho Einstein huy chương vàng mà ông xứng đáng được nhận. Chỉ sau hai năm ông mới được tặng huy chương vàng đó, khi ông sang thăm "hòn đảo sương mù". Cũng ở Anh, ông đã trực tiếp làm quen với GS Eddington. Trong các lá thư của mình, Einstein đã bày tỏ sự biết ơn đối với GS Eddington vì những hỗ trợ và sự ủng hộ của ông này. "Tôi rất muốn được trò chuyện với ông, - tác giả của lý thuyết tương đối viết cho nhà khoa học đã hâm mộ mình. - Điều đó cũng có ý nghĩa to lớn đối với tôi đến mức &nbsp;tôi cũng muốn học tiếng Anh".

Thực ra thì cuộc gặp gỡ giữa hai nhà khoa học cùng ưa chuộng tư tưởng hòa bình lại diễn ra rất lạnh lùng. "Trước lời chúc của bạn đồng nghiệp về việc cuối cùng thì lý thuyết tương đối cũng được chính thức công nhận, Einstein lại khô khan đáp rằng, ông sẽ lấy làm ngạc nhiên nếu kết quả không như vậy" &nbsp;- Guennadi Gorelik, nhân viên Trung tâm triết học và lịch sử khoa học thuộc Trường Đại học Boston, kể.

Sau khi đã trực tiếp làm quen với nhau, hai nhà khoa học đã chia tay. Einstein đã lịch sự đọc các công trình nghiên cứu của bạn đồng nghiệp người Anh nhưng đánh giá chúng rất vừa phải. Trong thư gửi cho nhà toán học người Đức &nbsp;Hermann Weyl, Einstein đã gọi một trong những công trình nghiên cứu của Eddington là "đẹp nhưng vô nghĩa nếu nhìn từ góc độ vật lý".

Điều cũ đã được quên lâu

Từ bộ toàn tập của Einstein cũng có thể tìm hiểu những thông tin mới trong thái độ của nhà vật lý vĩ đại đối với một công trình nghiên cứu khác - thí nghiệm nổi tiếng Michelson - Morley. Năm 1887, bằng một thí nghiệm rất thông hoạt, nhà vật lý Albert Michelson và nhà hóa học Edward Morley đã chứng minh được rằng, tốc độ ánh sáng là giá trị không đổi và không phụ thuộc vào chuyển động của trái đất.

Chính trên sự khẳng định này đã đặt cơ sở của lý thuyết tương đối hẹp của Einstein. Thế nhưng, trong bài báo lừng danh của mình, xuất bản năm 1905, Einstein đã không một lần nào nhắc tới tên họ của hai bạn đồng nghiệp người Mỹ này. Các nhà nghiên cứu lịch sử từ lâu đã cố gắng tìm hiểu xem những kết quả thí nghiệm của &nbsp;Albert Michelson và Edward Morley đã giúp đỡ Einstein đến đâu trong việc xây dựng lý thuyết của mình. Nguyên nhân dẫn tới các tranh luận là cách hành xử không nhất quán của bản thân Einstein.

Trong đời mình, Einstein đã đưa ra một số những tuyên bố mâu thuẫn với nhau. Trong tự thuật, nhà vật lý vĩ đại đã nói rằng ông coi các kết quả thí nghiệm của các đồng nghiệp Mỹ là không đáng kể, đồng thời cũng khẳng định rằng, ngay từ năm 16 tuổi, ông cũng đã tự nghĩ ra về sự không đổi của tốc độ ánh sáng trong mắt người quan sát.

Einstein cũng tuyên bố rằng, ông chỉ được biết về thí nghiệm Michelson - Morley sau khi công bố lý thuyết tương đối của mình năm 1905. Mọi sự đã ổn thỏa nếu như năm 1922, nhà vật lý vĩ đại đã không đưa ra một tuyên bố mang nội dung hoàn toàn ngược lại. Ông đã gọi thí nghiệm Michelson - Morley là bước tiến đầu tiên dẫn ông tới việc xây dựng lý thuyết tương đối hẹp.

Nhưng tài liệu vừa được công bố có thể sẽ giúp các nhà nghiên cứu lịch sử xác định được chân lý trong những lời tuyên bố mâu thuẫn nhau của nhà vật lý vĩ đại. Trong lần in mới có văn bản giải mã bài giảng mà Einstein đã đọc ở trường Parker (Mỹ) ngày 4/5/1921.

Theo lời nhà nghiên cứu lịch sử từ Viện Kỹ nghệ trong bài giảng của mình, nhà vật lý vĩ đại đã có một nhận xét rất "hấp dẫn". Einstein đã công nhận rằng, ông đã biết về thí nghiệm Michelson - Morley ngay từ khi còn là sinh viên. Chính lời thổ lộ này của nhà vật lý vĩ đại sẽ trở thành một luận cứ nghiêm trọng trong các cuộc tranh luận xung quanh lý thuyết tương đối hẹp. Tất nhiên, điều đó không có nghĩa là các cuộc tranh luận sẽ chấm dứt hoàn toàn, - bà Buchewald cảnh báo, - vì Einstein có thể đã nhắc tới thí nghiệm trên chỉ vì lịch thiệp, bởi đại đa số cử tọa nghe ông giảng bài hôm đó, cũng như nhà vật lý Albert Michelson, đều là người Mỹ

« Sửa lần cuối: 17 Tháng Mười Một, 2009, 02:28:53 PM bởi __[Chuột]__Đồng__ »
Logged
Chữ ký của _[Chuột]_Đồng_
♥♥Happy♥New♥Year♥♥♥♥░░░░░░☆☆
☆☆  ♥░▓▓▓▓▓░░░ ░▓▓▓▓▓░░░▓▓░░░░▓▓░
☆☆ ░░░♫░░▓▓░ ░▓░░░░░▓░▓▓▓░░░▓▓▓░
☆☆  ░░♥░░░▓▓░░▓░░░░░▓░░░▓░░░░░▓░
☆☆ ░♫░░▓▓░░░░▓░░░░░▓░░░▓░░░░░▓░
☆☆░░░▓▓░░░░ ░▓░░░░░▓░░░▓░░░░░▓░
☆☆ ░♥▓▓░░░░░░▓░░░░░▓░░░▓░░░░░▓░░
☆☆░♫▓▓▓▓▓▓░░░▓▓▓▓▓░░░▓▓▓░░░▓▓▓░
Trang: [1]   Lên
In
Chuyển tới: