Chọn kiểu gõ: AUTO [F9] VNI TELEX VIQR VIQR* Tắt Kiểm tra chính tả Bỏ dấu kiểu cũ
Văn học Việt Nam từ 8/1945 đến 1975
  • Trang chủ
  • Diễn đàn
  • Tìm kiếm
  • Diễn đàn
  • Lịch
  • Thành viên
  • Đăng nhập
  • Đăng ký
  • Hộp Thư
Trang: [1]   Xuống
In
Tác giả Chủ đề: Văn học Việt Nam từ 8/1945 đến 1975  (Đọc 14755 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
Mr But
nguyenvandien
Quản trị viên
Thành viên kỳ cựu
*


Giới tính: Nam

Lớp: 12A2
Trường: Đông Thụy Anh - Thái Bình
Khoá: 1993 - 1996

Bài viết: 1296
Thống kê Thanks
-Đã Thanks: 222
-Nhận được: 844
Điểm thưởng: 1

Offline Offline
luahongyeu Email
« vào lúc: 07 Tháng Chín, 2009, 02:22:17 AM »
I/ Hoàn cảnh lịch sử

- Nước ta được hoàn toàn độc lập. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.

- 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Chiến thắng Điện Biên Phủ.

- Đất nước bị chia cắt làm 2 miền. Kháng chiến chống Mĩ và bè lũ tay sai, để giành thống nhất Tổ quốc (1955 – 1975). Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng 30-4-1975.

- Hai nhiệm vụ chiến lược: vừa sản xuất, vừa chiến đấu, xây dựng và bảo vệ miền Bắc hậu phương, chi viện cho miền Nam tiền tuyến lớn anh hùng.

- Hiện thực cách mạng ấy đã tạo nên sức sống mạnh mẽ và phong phú của nền Văn học Việt Nam hiện đại từ sau Cách mạng tháng Tám.

II/ Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975
1. Một nền văn học thống nhất chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục vụ chính trị và cổ vũ chiến đấu.
2. Một nền văn học hướng về đại chúng trước hết là công nông binh.
- Công nông binh (nhân dân lao động) là động lực của cách mạng và kháng chiến, trong sản xuất và chiến đấu.

- Một nền văn học nói về họ và vì họ, phản ánh tâm tư, tình cảm, ước mơ, nguyện vọng của họ.

- Hình ảnh con người mới, cuộc sống mới trong thơ văn.

3. Một nền văn học đậm đặc khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.
- Đề cập những đề tài có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân.

- Những hình tượng anh hùng, những tính cách, sự tích anh hùng mang tầm vóc thời đại. Giọng điệu anh hùng ca.

- Lạc quan trong máu lửa, tin tưởng mãnh liệt vào tương lai tươi sáng và chiến thắng.

III/ Những nét lớn về thành tựu
1. Đội ngũ nhà văn ngày một đông đảo, xuất hiện nhiều thế hệ nhà văn trẻ tài năng. Nhà văn mang tâm thế: nhà văn - chiến sĩ.
2. Về mặt tư tưởng
- Lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, truyền thống anh hùng của đất nước và con người Việt Nam.

- Tình nhân ái, mối quan hệ cộng đồng tốt đẹp của con người mới.

- Lý tưởng Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội.

3. Về mặt hình thức thể loại
- Tiếng Việt hiện đại giàu có, trong sáng, nhuần nhị, lối diễn đạt khúc chiết, thanh thoát.

- Thơ là thành tựu nổi bật nhất. Thơ anh hùng ca, thơ trữ tình. Chất trí tuệ, trong thơ. Mở rộng câu thơ. Hình tượng người lính và người phụ nữ trong thơ.
- Truyện ngắn, tiểu thuyết, các loại ký… phát triển mạnh, có nhiều tác phẩm hay nói về con người mới trong sản xuất, chiến đấu, trong tình yêu. Nghệ thuật kể chuyện, bố cục, xây dựng nhân vật… đổi mới và hiện đại…
- Nghiên cứu, phê bình văn học, dịch thuật… có nhiều công trình khai thác tính truyền thống của văn học dân tộc và tinh hoa văn học thế giới.
Phân tích bài Đồng Chí

Năm 1945, Cách mạng thành công, nước ta đã giành được độc lập. Nhưng thực dân Pháp quyết tâm cướp nước ta lần nữa một lần nữa. Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi toàn dân kháng chiến chống giặc Pháp xâm lược (1946). Nhân dân ta đã hưởng ứng lời hịch cứu nước đã tập hợp nhau lại và tình cảm mới nảy nở: tình đồng chí. Nhà thơ Chính Hữu, với sự nhạy cảm của tâm hồn nghệ sĩ đã sáng tác bài thơ “Đồng chí”(1948) để ca ngợi tình cảm tốt đẹp, cao quý của những người lính kháng chiến. Bài thơ đã được truyền tụng, được ca hát và trở thanhg một trong những bài thơ nổi tiếng nhất trong nền thơ ca hiện đại của nước nhà.

Bài thơ có kết cấu lạ. Hai chữ “Đồng chí” đứng riêng thành một dòng thơ, gần như ở giữa bài thơ, riết cái thân bài thơ thành một cái lưng ong (tác giả Chính Hữu gọi là HÌNH BÓ MẠ). Nửa trên là một mảng quy nạp (như thế là đồng chí), nửa dưới là một mảng diễn dịch (đồng chí là như thế này nữa). Một cấu trúc chính luận cho một bài thơ trữ tình không lạ lắm sao.

Chủ đề đồng chí hiện lên trên từng cấu trúc ngôn ngữ, nghĩa là trong từng tế bào thơ. Tôi với anh khi thì xếp dọc:

“Quê hương tôi nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”

Khi thì xếp ngang (đều là hàng ngũ của lính):

“Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”
khi thì điệp điệp:

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

Súng là nét thẳng, cứng rắn (thép mà lại!), đường nét của ý chí. Đầu là nét cong (tròn), đường nét của tình cảm. Đầu cũng cứng (cứng đầu mà lại!) nhưng khi “đầu sát bên đầu” thì lại rất mềm, rất thân ái. Họ đã đến bên nhau, “súng bên súng, đầu sát bên đầu” là vì họ cùng chung lí tưởng cứu nước cao đẹp.

Đến đêm rét trùm chung một cái chăn (vì hồi đó bộ đội rất thiếu thốn) thì nhập lại thành “đồng chí”.

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Đồng chí!”

Cái chăn đắp lại thì tâm tư mở ra. Họ soi vào nhau. Anh hiểu tôi. Tôi hiểu đến nỗi lòng sâu kín của anh:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không, mặc gió lung lay”.

Giải thích sao đây hai chữ “mặc kệ”? Có gì giống với thái dộ này không:

“Người đi, ừ nhỉ, người đi thực

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say”

(Tống biệt hành – Thâm Tâm)

Không! Nó đâu có khinh bạc và phiêu du như thế. Ở ngoài mặt trận mà biết gió lay từng gốc cột của ngôi nhà mình thì không còn chữ nào để diễn tả nổi tình cảm thiết tha của họ đối với gia đình. Nhưng trước hết phải vì nghĩa lớn. Thái độ nghĩa hiệp ấy gần giống với Hồng Nguyên (tác giả bài thơ “Nhớ” nổi tiếng), gần với Trần Mai Ninh (tác giả bài thơ Tình sông núi rất hay) trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp; gần với Lê Anh Xuân ( tác giả bài thơ Dáng đứng Việt Nam, kiệt tác), Nguyễn Mĩ (tác giả bài thơ Thưa mẹ trái tim, bi tráng và cảm động)…trong kháng chiến chống Mĩ.

“Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”

Là nhà thơ của một tâm hồn “ hiệp sĩ” mà cũng là sử thi của một thời gian khổ và oanh liệt.

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày

Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Nói lên những nỗi gian khổ của cuộc kháng chiến, nhưng không phải tác giả định kể khổ mà chỉ cốt để khắc đậm thêm tình đồng chí. Không phải cái khổ mà là sự đồng khổ mới là điều đáng nói ở đây (Anh với tôi..,Áo anh…Quần tôi…). Và điều gì đã tạo ra sức mạnh như phép lạ cho những người lính vượt qua những gian truân khổ ải đó? Điều đã tạo ra sức mạnh như phép lạ đó chính là tình đồng chí. Gian khổ không làm tắt nụ cười trên môi người chiến sĩ:

“Miệng cười buốt giá”

Trong thơ kháng chiến, ta đã từng gặp những nụ cười tràn đầy lạc quan như thế:

“Lũ chúng tôi

Bọn người tứ xứ

Trời lạnh, ở rừng núi mà “chân không giày” thì tội lắm, thương lắm!Biết làm sao? Chỉ còn tình đồng chí sưởi ấm họ:

“ Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”

Nắm đôi bàn tay mà ấm cả đôi chân (không giày), chỉ có tình đồng chí mới tạo ra được phép lạ đó!

Họ hiểu nhau đến chiều sâu như thế là để nương tựa vào nahu mà đi đến chiều cao nay:

“Đêm nay rừng hoang sương muối

Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo”

Chung nhau một cái chăn là một cặp đòng chí, “áo anh rách vai, quần tôi có vài miếng vá” là một cặp đồng chí, nắm đôi bàn tay mà ấm cả đôi bàn chân là một cặp đồng chí, và đêm nay giữa “rừng hoang sương muối”.

“Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”

là một cặp đồng chí, là đỉnh cao của tình đồng chí. Vì nếu đêm nay giữa “rừng hoang sương muối” mà anh hoặc tôi không “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới” thì mọi hành vi thân ái kia, như “chung chăn”, như áo rách quần vá, “thương nhau tay nắm lấy bàn tay” còn có ý nghĩa gì? Cau thơ này có một từ bình thường nhưng không thay thế được đó là từ”đứng”. Có một nhạc sĩ đã phổ nhạc bài thơ này và sửa lại thành “ngồi”. “Đứng” là thưòng trực chiến đấu mà ngồi là nghỉ ngơi. Với lại từ “đứng” có âm “đ” cứng, thanh trắc (dấu sắc) mạnh phô diễn được sức mạnh của tình đồng chí ở đỉnh cao.

Nói như thế, nhà thơ cảm thấy hãy còn hữu hạn nên đã chọn một biểu tượng cho cái vô cùng của tình đồng chí:
“Đầu súng trăng treo”

Lãng mạn thay, súng và trăng cũng là một cặp đồng chí! Cặp đồng chí này ( súng và trăng) nói về cặp đồng chí (tôi và anh),nói được cái cụ thể và gợi đến vô cùng. Súng và trăng, gần và xa ”Anh với tôi đôi người xa lạ, Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”. Súng và trăng, cứng rắn và dịu hiền: súng và trăng, chiến sĩ và thi sĩ; súng và trăng..là biểu hiện cao cả của tình đồng chí.

Sự kết hợp yếu tố hiện thực tươi rói với tính chất lãng mạn trong trẻo là màu sắc mới mẻ mà Chính Hữu đã sớm mang lại cho thơ ca kháng chiến, thi ca cách mạng.



(từ onthi.com)
Logged
Chữ ký của Mr But
o0o0opemapo0o0o
Thành viên tích cực năm 2009
Thành viên kỳ cựu
*


pemap^^hamngu

Giới tính: Nữ

Lớp: 12A2
Trường: Chơn Thành dấu yêu >.^
Khoá: 2007-2010

Bài viết: 858
Thống kê Thanks
-Đã Thanks: 221
-Nhận được: 320
Điểm thưởng: 7

Offline Offline
tramnguyen14692@yahoo.com tramnguyen14692
« Trả lời #1 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2009, 03:11:30 AM »
Bụt ơi, bụt nói về cái " chất thép" trong thơ văn của Hồ Chủ Tịch cho tụi con biết đc không Bụt.
pemap
Logged
Chữ ký của o0o0opemapo0o0o
Trang: [1]   Lên
In
Chuyển tới: